Những trở ngại trong xử lý cạnh tranh không lành mạnh

Thảo luận trong 'Mua bán - Rao vặt' bắt đầu bởi LAWKEY, 17/1/20.

  1. LAWKEY

    LAWKEY Member

    Tham gia:
    28/11/19
    Bài viết:
    57
    Điểm thành tích:
    6
    Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng. (Điều 3- khoản 4 – Luật cạnh tranh)
    Cạnh tranh không lành mạnh có thể hiểu theo hai góc độ:

    Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực thương mại:

    - Ép buộc trong kinh doanh;

    - Gièm pha doanh nghiệp khác;

    - Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

    - Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

    - Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

    - Phân biệt đối xử của hiệp hội;

    - Bán hàng đa cấp bất chính.

    Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực thương mại được giải thích cụ thể tại điều 42 đến 48- Luật cạnh tranh.

    Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp (SHCN):

    - Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

    - Xâm phạm bí mật kinh doanh;

    Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN được quy định cụ thể tại Điều 130 – Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT):

    a. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;

    b. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;

    c. Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;

    d. Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

    Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh lần đầu tiên đã được thừa nhận là một bộ phận cấu thành của bảo hộ Sở hữu công nghiệp vào năm 1900 tại Hội nghị ngoại giao Brusels về Sửa đổi Công ước Paris về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bằng việc bổ sung Điều 10 bis vào Công ước. Ở đâu có tự do cạnh tranh là ở đó có khả năng xảy ra hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là kết quả tất yếu của một hệ thống kinh tế thị trường tự do cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu không có biện pháp hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.

    Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nhân phần lớn hoạt động vì lợi nhuận của chính mình, cần phải có cạnh tranh giữa các đơn vị kinh tế tự chủ. Thông qua cạnh tranh người mua là người được hưởng lợi, và xã hội cũng phát triển. Mọi doanh nghiệp luôn nỗ lực cung cấp các sản phẩm có ích, hiệu quả, tiết kiệm nhất, giá thành rẻ nhất và chất lượng tốt nhất nhằm được người tiêu dùng lựa chọn. Tuy nhiên, sự nỗ lực của một doanh nghiệp chân chính sẽ trở nên vô nghĩa nếu như có những hiện tượng không tuân thủ quy tắc cơ bản của cạnh tranh, cố ý lừa dối người tiêu dùng và giành lợi thế bằng cách hạ thấp đối thủ cạnh tranh.

    Cạnh tranh “không lành” thì luôn “mạnh”?

    Hy vọng là đây chỉ là cách nghĩ thiển cận của ai đó mất lòng tin tạm thời vào các quy định pháp luật. Nhưng quả thật, hiện nay các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra ở Việt Nam vô cùng phổ biến và ngày càng gia tăng, nhưng sự điều chỉnh và chế tài của pháp luật trong lĩnh vực này dường như “trở tay” không kịp. Đặc biệt là những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN đang diễn ra thường xuyên hơn, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp có chủ trương cạnh tranh lành mạnh và người tiêu dùng. Hễ một Nhà hàng ăn uống có một cái tên ấn tượng trên biển hiệu và kinh doanh hiệu quả thì ngay lập tức sẽ có hàng chục “bản sao” biển hiệu đó rải rác trên khắp thành phố, cùng địa bàn quận hoặc thậm chí trên cùng một con đường nhỏ. Khi một sản phẩm của một doanh nghiệp A, mang Nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ trở nên chiếm lĩnh thị trường, được người tiêu dùng ưa chuộng thì không bao lâu sau hàng tá cơ sở khác cũng tung ra sản phẩm giống y hệt từ kiểu dáng, màu sắc và mang chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn với Nhãn hiệu đã đăng ký. Đương nhiên là chất lượng không thể bằng nhưng sản phẩm cố ý gây nhầm lẫn giá thành có thể rẻ hơn. Do đó, người tiêu dùng bị nhầm lẫn giữa các sản phẩm, không biết đâu là sản phẩm mang Nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ mà mình mong muốn mua và phân vân về chất lượng sản phẩm. Hậu quả là sản phẩm của doanh nghiệp chân chính bị rơi vào thế cạnh tranh trực diện, ảnh hưởng lớn tới uy tín, thị phần và đối mặt với việc thương hiệu của mình bị “nuốt” dần. Điều đáng nói hơn là người tiêu dùng phần lớn không nhận dạng được các thủ thuật cạnh tranh không lành mạnh, hoặc nếu có nhận ra thì cũng lắc đầu cho qua bởi liệu có thể phản ứng sao đây khi đó đã trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội? Chúng ta không khỏi tự hỏi do đâu mà những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đang diễn ra và tăng lên hàng ngày hàng giờ?

    Lý do cố hữu: thiếu cơ sở pháp luật?…

    Điểm lại các quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực cạnh tranh và Sở hữu trí tuệ của Việt Nam, có thể nhận thấy rằng đã có các quy định điều chỉnh trực tiếp về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trước khi Luật cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ ra đời, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp được ghi nhận bảo hộ trong Nghị định của Chính phủ số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000. Với sự ra đời của Luật cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ, hệ thống pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới quyền SHCN khá rõ ràng về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đạt độ tương thích với pháp luật quốc tế và pháp luật các nước khác trên thế giới. Các nhà làm luật đã kỳ vọng rằng Pháp luật về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN sẽ bước đầu chủ động tạo môi trường pháp lý để hạn chế tối đa hậu quả của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khuyến khích các nhà kinh doanh đầu tư vào khoa học- công nghệ, phát triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế để đạt được hiệu quả như mong muốn quả không đơn giản chút nào.

    Hầu hết các quy định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh đều là quy phạm nội dung, còn thiếu các quy phạm thủ tục và những hướng dẫn cụ thể về trình tự xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN. Phải thừa nhận rằng đó là thực trạng chung của công tác xử lý xâm phạm quyền SHTT, chứ không chỉ của riêng việc xử lý cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN.

    Như đã đề cập ở trên, quy định pháp luật về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh của Việt Nam đã có độ tương thích nhất định với Pháp luật quốc tế nhưng sự mâu thuẫn lại xảy đến giữa chính các quy định pháp luật trong nước với nhau. Các quy định pháp luật xử lý cạnh tranh không lành mạnh và các quy định pháp luật bảo hộ quyền SHTT khác, quy định pháp luật thương mại, doanh nghiệp vẫn chưa có sự đồng bộ, thống nhất. Một ví dụ điển hình cho thấy sự xung đột giữa quyền tác giả, quyền kinh doanh và quyền đối với Nhãn hiệu. Doanh nghiệp A đã đăng ký bảo hộ Nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm/dịch vụ mà họ đang kinh doanh. Sau đó, Doanh nghiệp B đăng ký kinh doanh cùng tên với Nhãn hiệu mà Doanh nghiệp A đã đăng ký bảo hộ. Doanh nghiệp C lại có Giấy chứng nhận bản quyền tác giả cho tác phẩm là mẫu chữ, logo có trên biển hiệu, cùng tên với Nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ. Rõ ràng, hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại của Doanh nghiệp B và Doanh nghiêp C là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Nhưng khi đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký Bản quyền tác giả bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghĩa là họ đã có được những quyền hợp pháp tương ứng với những tài liệu đó. Luật sư bảo vệ quyền lợi cho khách hàng là Doanh nghiệp A sẽ phải lập luận thế nào để có thể xử lý được hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi hành vi này lại được dựa trên cơ sở một sự bảo hộ khác, được xác lập theo đúng trình tự pháp luật? Ngay cả các cơ quan thực thi quyền Sở hữu trí tuệ, trong quá trình xử lý loại hành vi xâm phạm quyền SHTT này đôi khi cũng khó đưa ra một quyết định triệt để vì có quá nhiều cách áp dụng pháp luật khác nhau cho cùng một vụ việc, mà nghe chừng cứ cân nhắc mãi thì “cách hiểu nào cũng không sai!”
    Xem thêm: Dịch vụ thành lập công ty tại Đà Nẵng.
     

Chia sẻ trang này